TƯ VẤN PHONG THỦY

Tin tức

TƯ VẤN PHONG THỦY

Ngày cập nhật: 11-02-2020
CHỌN NĂM – THÁNG – NGÀY – GIỜ NHẬN XE TOYOTA MỚI
Hiện nay thì việc lựa chọn ngày lành tháng tốt đang nở rộ khắp mọi miền đất nước. Do đó làm xuất hiện đủ các kiểu Thầy và các loại sách chuyên xem ngày tháng như lịch vạn sự, sách xem ngày lành tháng tốt của từng năm v.v… Thôi thì đủ các kiểu xem và điều lạ lung là tất cả các thầy đều chống đối nhau và thầy nào cũng tự đề cao mê hồn trận và hoang mang bối rối chẳng biết chọn thầy nào cho đúng mà để gửi gắm niềm tin của mình.
 
Vấn đề là được đặt ra là có năm, tháng, ngày, giờ tốt hay xấu không? Thế nào là tốt hay xấu? Cách chọn tốt xấu dựa trên cơ sở lý luận nào và có đúng với thực tiễn không? Chọn-ngày-tháng-năm
 
Tôi xin nêu ra 1 thí dụ để mọi người sauy nghĩ và rộng đường dư luận. Năm nay là năm Tân Mão, tháng mà tôi viết bài là tháng Tân Mao, ngày Mậu Dần, giờ Tý là giờ Nhâm Tý. Hỏi rằng 4 yếu tố Năm, Tháng, Ngày, Giờ trên là tốt hay xấu? Về mặt lý luận thì chưa bàn cãi tới còn về mặt thực tiễn thì có hàng ngàn đứa trẻ ra đời, có hàng vạn viện quan được thăng chức, có hàng ngàn nhà kinh doanh phát tài. Ngược lại thì có ngàn người chết hoặc nhập viện vì ốm đau, có hàng trăm vụ tai nạn giao thông đang xảy ra, có hàng ngàn vụ tham nhũng được khởi tố và vô tù v.v… Như vậy, Năm, Tháng, Ngày , Giờ là giống nhau mà sự tốt xấu của mỗi người là khác nhau; do dó ta khẳng định được rằng không hề có Năm, Tháng, Ngày, Giờ xấu hoặc tốt chung cho tất cả mọi người như các sách đã viết và các Thầy đã và đang làm. Cùng yếu tố không gian và thời gian như nhau nếu người nào được lợi thì gọi là tốt, nếu không được lợi mà bị hại thì cho là xấu. Sự tốt xấu của Năm, Tháng, Ngày , Giờ là phụ thuộc vào tuổi năm sinh của từng người và yếu tố thời vận của người đó. Do đó cũng là 1 con người đó mà có năm thì tốt, có năm thì xấu và có năm thì bình thường ( chẳng tốt mà chẳng xấu ).
 
Quan điểm về sự tố xấu của Năm, Tháng, Ngày, Giờ xuất phát từ khi nền dịch lý học của Trung Quốc ra đời từ xưa và truyền lại cho tới ngày nay. Nó chính là học thuyết về Âm Dương – Ngũ Hành – Bát Quái mà bộ sách kinh dịch đã trình bày. Vậy thì ai là người am hiểu nó và biết vận dụng nó để tính toán và tìm ra được các qui luật xuất hiện sự tốt xấu cho từng người khác nhau. Ngày nay chúng ta rất may mắn là kế thừa được quyển lịch vạn niên có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc cổ đại. Nhà nào cũng có, người nào cũng thấy, chỉ có điều là ít người hiểu và không biết cách dung nó trong việc chọn ngày lành tháng tốt như đã nói ở trên. Quyển lịch vạn niên là lịch số Can Chi nó mô tả sự biến đổi của khí Thiên Can ( khí Trời ) và khí Địa chi ( khí Đất ) để tạo thành sự thay đổi của khí hậu 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông trong một năm, tức là tạo ra sự thay đổi khí hậu của môi trường mà con người phải phụ thuộc vào nó. Thiên Khí và Địa Khí là nguồn gốc sinh thành vạn vật và người trên thế gian này, nó sinh thành và nuôi sống người và vạn vật theo qui luật “ Khí biến thì hình hóa thành “, tức là hình thể người và vạn vật có được là do Thiên Khí và Địa Khí “ Trời làm cho sinh mà Đất làm cho thành “, là cái lý biến dịch của Thiên Khí và Địa Khí. Con người sống ở khoảng giữa của Trời Đất nên phải chịu ảnh hưởng của Thiên Khí và Địa Khí là điều hiển nhiên mà không cần phải bàn luận. Sự tốt xấu của con người theo từng chu kỳ của cuộc đời hoàn toàn lệ thuộc theo sự biến đổi của Thiên Khí và Đất Khí, do đó việc tìm kiếm ngày lành tháng tốt cho từng người là phải dựa trên nền tảng tuổi năm sinh của người đó phối hợp với sự biến đổi ở Thiên Khí và Địa Khí theo các Năm, Tháng, Ngày, Giờ mà ta cần tìm. Nếu sự biến đổi đó mà thuận theo tuổi năm sinh can chi của người đó ( tương sinh hay đồng hành ) thì được gọi là tốt. Nếu mà không thuận ( tương khắc ) thì gọi là xấu. Do vậy việc tìm kiếm ngày lành tháng tốt là một sự tính toán theo dịch lý can chi của tuổi năm sinh so với dịch lý can chi của năm tháng ngày giờ mà ta cần chọn chứ không phải theo 1 quyển sách nào đó đã chọn sẵn rồi cứ thế mà tra như tra từ điển của ngoại ngữ.
 
Thí dụ : có người sinh năm Giáp Tý (1984) thì can Giáp thuộc dưong Mộc, chi Tý thì thuộc dương Thủy thì phải hiểu rằng người đó được sinh ra và được hấp thụ bởi khí Thiên Can là dương Mộc và khí Địa Chi là dương Thủy, theo quy luật tương sinh thì thủy sinh mộc tức là chi sinh can, do đó tuổi năm sinh Giáp Tý là yếu tố cố định suốt cuộc đời nên nó được gọi là CHỂ THỂ. Nếu chọn ngày lành tháng tốt cho chủ thể này tức là phải chọn Khách Thể mà nó chính là yếu tố Nam, Tháng, Ngày, Giờ cần tìm. Theo nguyên lý biến dịch ngỹ hành của khách thể so với chủ thể thì sẽ có các trường hợp xảy ra như sau :
 
1/ Nếu ngũ hành can chi của Khách thể mà tương sinh hoặc đồng hành với ngủ hành can chi của Chủ thể thì được gọi là tốt nhất.
 
2/ Nếu ngũ hành can chi của Khách thể mà tương khắc so với ngũ hành can chi của Chủ thể thì được gọi là xấu.
 
Từ xưa đến nay người ta nhằm lẫn khái niệm về ngũ hành bản mệnh của mình nên mới đem nó ra sử dụng một cách tùy tiện và không kém phần thiếu suy nghĩ, vì thể mới xảy ra lắm trường hợp “ cười ra nước mắt” hoặc “tiền mất tật mang”. Thí dụ : tuổi Giáp Tý có mệnh là Hải Trung Kim; Tuổi Nhâm Thân có mệnh là Kiếm Phong Kim; Tuổi Giáp Ngọ có mệnh là Sa Trung Kim; Tuổi Nhâm Dần có mệnh là Kim Bạch Kim. Như vậy có tới 5 loại tuổi mà Thiên Can và Địa Chi hoàn toàn khác nhau mà có chung  ngũ hành bản mệnh là Kim ( cho dù các hình thức Kim là khác nhau, nhưng bản chấn Kim vẫn là Kim ) thì giống nhau. Các thầy ngày nay không hề phân biệt giữa sự giống nhau và khác nhau về ngũ hành bản mệnh so với ngũ hành Thiên Can Địa Chi của tuổi năm sinh ( cục ngũ hành ) nên mới đồng hóa tất cả chỉ là một và sử dụng nó một cách hào hứng, tự tin và vô tội vạ cho người khác. Trong thực tiễn cuộc sống ngày nay có rất nhiều người họ không tin vào lĩnh vực nói bừa phán bậy của các Thầy, điều nay rất đúng vì khi nghe thấy phán thì họ đề nghị thầy giải thích để họ có nhận thức đúng để làm nền tảng cho niềm tin của họ. Tiếc thay các Thầy bí nên đưa ra lời hù dọa : “Thiên cơ bất khả lậu” , đó là câu bùa chú mang tính chất thần bí, thần quyền mà ch3i riêng “ Thầy” mới có được, tức là ông Trời nào đó chỉ ban cho Thầy mà thôi, người khác dù tri thức, trí thức, học thức đầy mình cũng không có quyền hiểu được. Đó là một điều lạ lùng mà mọi người cần thức tỉnh.
 
Quyển lịch số vạn niên là một bộ bách khoa Toàn Thư về dịch lý học Đông Phương, nó chứa đựng tất cả những gì tinh túy của qui luật vận động từ vũ trụ quan đến nhân sinh quan cuộc sống của con người và vạn cật từ xưa đến nay và mãi mãi về sau, nếu ai hiểu được nó, biết vận dụng nó một cách năng động và sáng tạo thì sẽ thu được lợi nhuận cao, ngược lại thì đại bại là lẽ tất yếu. Tại sao lại như vậy, tại vì tất cả các qui luật vận động của Thiên Khí và Địa Khí là tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn của Trời Đất ( có tốt có xấu cho từng người cụ thể ), nếu biết sử dụng nó ( mượn sức của nó như Khổng Minh nựon sức của Tôn Quyền, mượn gió Đông Nam…..Đủ các thứ mượn ) thì chỉ cần ít tốn công sức mà sự nghiệp vần thành đạt như thường, đó là lời dạy của thánh nhân “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong “ . Điều này là kim chỉ nam cho tất cả các thầy phải dựa vào đó mà chọn ngày lành tháng tốt cho người khác, chớ có làm bừa, hù dọa người khác để kiếm cơm một cách bất chính. Bài sau tôi xin mạnh dạn trình bày nguyên lý tìm ngày lành tháng tốt cho tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống .
 
Soạn giả
 
Thầy Nguyễn Như Ý
 
Rất mong nhận đựơc sự hợp tác và quan tâm của quý vị.
 
 
CHỌN MÀU XE THEO PHONG THỦY
Dưới đây là những kiến thức cơ bản về ngũ hành và màu sắc, cũng những kinh nghiệm chọn màu xe hợp với mệnh của bạn.
Ngũ hành
Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tồn tại theo quy luật tương sinh và tương khắc. Quy luật của Ngũ hành hoàn toàn phù hợp với quy luật của tự nhiên, vì vậy từ khi được biết đến, Ngũ hành luôn thể hiện một sự chính xác cho những người tin vào. Mỗi người sinh ra đều có mệnh của mình theo quy luật xoay vòng của Ngũ hành 2 năm 1 lần, qua đó ứng với quy luật tương sinh tương khắc với mệnh khác.
 
Trong ngũ hành, tương sinh là vòng tròn phía ngoài, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc. Ứng với tự nhiên là cây khô dễ cháy sinh lửa – lửa đốt mọi vật ra tro, thành đất – đất tạo nên quặng trở thành kim loại – kim loại nung nóng chảy thành dạng lỏng như nước – nước nuôi cây lớn. Vòng tròn tương sinh cũng ứng với sự hỗ trợ, làm tốt lên, tạo sự may mắn, yên ổn.
 
Tương khắc là những đường bên trong vòng tròn tương sinh, tạo thành hình ngôi sao 5 cánh. Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ và Thổ khắc Thủy. Ứng với tự nhiên là nước dập tắt lửa, lửa làm chảy kim loại, kim loại cắt được cây, cây hút chất màu của đất, đất ngăn nước chảy. Tương khắc ngược lại với tương sinh, tức là có thể sẽ gây là những điều không tốt, đối lập.
 
Ngũ hành và màu sắc
Bảng màu cũng có sự chuyển động tương ứng như ngũ hành, và bảng màu cũng rất phù hợp với quy luật của tự nhiên.
 
Theo đó, Mộc ứng với màu xanh lá cây; Hỏa ứng với màu đỏ, hồng, da cam; Thổ ứng với màu nâu, vàng đậm; Kim ứng với màu vàng sáng, bạc, trắng; Thủy ứng với màu xanh nước biển, đen, tím.
 
Chọn màu xe theo ngũ hành
Theo ngũ hành tương sinh tương khắc, có nghĩa là việc chọn màu cũng nên chọn theo quy luật tương sinh tương khắc với chủ nhân.
 
Chọn màu tương sinh với mệnh sẽ khiến bạn cảm thấy tự tin, may mắn, thoải mái thanh thản. Bản thân màu tương sinh cũng khiến bạn cảm thấy rất phù hợp.
 
Chọn màu mà mệnh của bạn tương sinh cũng hợp lý, khiến chiếc xe bền hơn và hợp với chủ nhân.
 
Bạn có thể chọn màu cùng mệnh, nhưng đừng quá lạm dụng. Màu cũng mệnh sẽ khiến bạn yên ổn và an toàn nhưng nếu nhiều màu cùng mệnh quá sẽ sinh ra dư thừa, phản tác dụng.
 
Cần tránh những màu tương khắc với mệnh của bạn. Những màu tương khắc sẽ khiến sức khỏe của bạn bị ảnh hưởng, tâm trí bất định, mất tập trung, hay bực bội nóng giận, dễ gặp tai nạn hơn nếu lái xe, có thể bị thương tật.
 
Bạn cũng không nên lạm dụng những màu mà mệnh của bạn khắc, hay còn gọi là khắc xuất. Những màu ấy tuy không ảnh hưởng đến bạn nhưng sẽ khiến chiếc xe của bạn không ổn định, hay hỏng hóc khó sửa chữa và khó giữ chiếc xe lâu dài.
 
Kinh nghiệm chon màu xe
Người mệnh Hỏa nên chọn xe màu xanh lá cây. Có thể chọn xe màu da cam, đỏ, hồng cùng mệnh. Nếu bạn cảm thấy một chiếc xe màu xanh lá cây đôi khi quá nổi bật và không phù hơp, hãy chọn các màu như nâu, vàng đậm, trắng, bạc, vàng sáng. Cần tránh xe màu xanh nước biển, đen.
 
* Mệnh Hỏa gồm có các tuổi:
  • Giáp Tuất 1934 & Ất Hợi 1935;
  • Mậu Tý1948 & Kỷ Sửu 1949;
  • Bính Thân 1956 & Đinh Dậu 1957;
  • Giáp Thìn 1964 & Ất Tỵ 1965;
  • Mậu Ngọ 1978 & Kỷ Mùi 1979;
  • Bính Dần 1986 & Đinh Mão 1987.
Người mệnh Thổ nên chọn xe màu đỏ,da cam,hồng. Có thể chọn màu nâu, vàng đậm, vàng nhạt, bạc, trắng. Nên tránh màu xanh lá cây và nhớ đừng lạm dụng màu xanh da trời, đen.
Mệnh Thổ gồm có các tuổi:
  • Mậu Dần 1938 & Kỷ Mão 1939;
  • Bính Tuất 1946 & Đinh Hợi 1947;
  • Canh Tý 1960 & Tân Sửu 1961;
  • Mậu Thân 1968 & Kỷ Dậu 1969;
  • Bính Thìn 1976 & Đinh Tỵ 1977;
  • Canh Ngọ 1990 & Tân Mùi 1991;
Người mệnh Kim nên chọn xe màu nâu, vàng đậm. Bạn cũng có thể mua xe màu trắng, vàng nhạt, xanh nước biển. Cần cân nhắc khi mua xe màu xanh lá cây và thận trọng với màu đỏ, da cam, hồng.
 
* Mệnh Kim gồm có các tuổi:
  • Nhâm Thân 1932 & Quý Dậu 1933
  • Canh Thìn 1940 & Tân Tỵ 1941
  • Giáp Ngọ 1954 & Ất Mùi 1955
  • Nhâm Dần 1962 & Quý Mão 1963
  • Canh Tuất 1970 & Tân Hợi 1971
  • Giáp Tý 1984 & Ất Sửu 1985
 
Người mệnh Thủy nên chọn xe màu trắng, vàng nhạt. Có thể sử dụng màu cùng mệnh như xanh nước biển, đen hay màu xanh lá cây. Bạn cần tránh những màu như nâu, vàng sẫm. Màu đỏ, da cam là màu khắc xuất cũng nên thận trọng khi lựa chọn.
* Mệnh Thủy gồm có các tuổi:
  • Bính Tý 1936 & Đinh Sửu 1937;
  • Giáp Thân 1944 & Ất Dậu 1945;
  • Nhâm Thìn 1952 & Quý Tỵ 1953;
  • Bính Ngọ 1966 & Đinh Mùi 1967;
  • Giáp Dần 1974 & Ất Mão 1975;
  • Nhâm Tuất 1982 & Quý Hợi 1983;
Người mệnh Mộc nên sử dụng xe có màu xanh nước biển, đen, tím. Có thể sử dụng màu xanh lá cây, nâu, đỏ, hồng, da cam và cần tránh các màu kim như bạc, trắng, vàng ánh kim.
 
*  Mạng Mộc gồm có các tuổi:
  • Nhâm Ngọ 1942 & Quý Mùi 1943;
  • Canh Dần 1950 & Tân Mão 1951;
  • Mậu Tuất 1958 & Kỷ Hợi 1959;
  • Nhâm Tý 1972 & Quý Sửu 1973;
  • Canh Thân 1980 & Tân Dậu 1981;
  • Mậu Thìn 1988 & Kỷ Tỵ 1989.
Nhìn chung, nên rất trận trọng khi sử dụng các màu tương khắc với mệnh của bạn để có thể an tâm khi sử dụng xe. Dù sao, quan trọng hơn vẫn là việc tập trung khi lái xe, không sử dụng rượu bia và lái xe đúng luật, còn nếu không thì dù có sử dụng xe có màu phù hợp đến mấy bạn cũng phải nhận những hậu quả đáng tiếc.

Chọn Xe Và Phong Thủy

Xe hơi là một phần đời khác của chúng ta vì nếu chúng ta cư xử tốt với chúng, chúng sẽ phục vụ chúng ta một cách “đàng hoàng, tử tế”. Có người còn nói chuyện với xe của họ, người khác thì đặt tên gọi riêng cho chúng và thậm chí nhân cách hóa chúng. Ở một số nơi trên thế giới, chúng còn được khấn vái, cầu ơn trên phù hộ cho nữa. Cái sảy sẽ nảy cái ung vì vậy chúng ta nên chủ động quan tâm chăm sóc cho chiếc xe.

Tổng quát, xe hơi cũng tuân thủ theo thế đất Tứ Linh kinh điển: phía sau cao hơn phía trước và được “nâng đỡ” ở hai bên xe. Chỗ ngồi của xe cũng nên theo hình thế này. Những xe nào thoai thoải về phía sau và trống ở phía sau có thể khiến chúng ta cảm thấy bất an, như trong trường hợp bạn nhìn thấy ai đó lái xe mà cửa sau hoặc nắp thùng sau xe không được đóng kín. Loại xe tải nhỏ, chất dỡ hàng từ phía sau, có điểm yếu là do hàng hóa có thể rơi rớt hoặc bị ăn cắp.

Đèn sau xe tượng trưng cho khu vực Huyền Vũ: báo cho người đi phía sau xe chúng ta biết để giảm tốc độ lại. Chính vì vậy phải chắc chắn rằng các đèn này không bị mờ tối và luôn hoạt động tốt; khi chúng bị hỏng phải thay thế ngay. Các xe có vị trí ngồi dốc về phía trước, như các loại xe thể thao đắt tiền, cũng phơi bày nhược điểm ở phía sau vì vị trí Huyền Vũ yếu. Hiệu ứng “thư thái” của xe loại này thường được biểu hiện qua thói quen lái xe của những người chủ xe.

TRANG TRÍ XE
Những giấy dán trang trí trên cửa kiếng phía sau của xe tăng cường cho vị trí Huyền Vũ này, nhất là những câu đại loại như “Làm ơn giữ khoảng cách” hoặc câu “Đang chở em bé trên xe”, hoặc những giấy dán mang tính chất cảnh báo khác. Những giấy dán có tính khôi hài hoặc khó đọc sẽ mang đến tác dụng ngược vì chỉ khuyến khích xe chạy sau tiến đến gần xe của bạn hơn. Chú ý đừng dán các giấy trang trí làm cản tầm nhìn của người lái xe.

Bất cứ giấy dán trang trí nào gây mất tập trung của người phía sau bạn nên tránh dùng. Kính chắn gió có thể có tác động như hình thế Chu Tước và các vật chuyển động đong đưa có thể tạo sự bất ổn định và làm ảnh hưởng đến sự tập trung. Đừng đặt những vật không cố định phía sau xe vì khi thắng gấp chúng có thể trở thành những viên đạn trái phá bắn vung vãi trong xe.

Thậm chí những người không tự nhận là mình mê tín cũng thường mang theo những vật có tính linh thiêng khi di chuyển. Ở phương Tây hình tượng thánh Christopher được tin là vật hộ mạng vì đây là Thánh đỡ đầu cho những người đi xa. Mỗi nền văn hóa đều có những biểu tượng hộ mạng riêng, chẳng hạn ở Việt Nam đó là hình tượng Phật Bà Quan Âm hoặc Đức Mẹ Maria,… Quan điểm đối với các bảng số xe cũng cho thấy sự khác biệt về văn hóa. Người Trung Quốc tránh con số 4 vì nó giống như chữ “chết chóc”, trong khi người phương Tây không thích con số 13 và ba số sáu vì những lý do mê tín.

XE HƠI VÀ GIÁC QUAN
Không khí bên trong xe cần phải trong lành vì đây là yếu tố quan trọng liên kết người ngồi trong xe với thế giới bên ngoài và làm sạch môi trường trong không gian tù túng này. Nếu không khí không trong sạch, tài xế sẽ trở nên dễ mệt mỏi và mất tập trung. Để làm trong lành bầu không khí trong xe, ta có thể dùng các chất tạo mùi tự nhiên, đồng thời cũng tác động lên tâm trạng của những người trong xe. Cây hương thảo, dầu hoa cam và dầu chanh có tác dụng rất tốt trong việc làm nguôi cơn giận và giúp cho đầu óc chúng ta được thanh thản, nhẹ nhàng.

Tầm nhìn lại là một yếu tố quan trọng khác khi ở bên trong xe hơi. Các kính xe và các đèn pha phía trước nên giữ cho sạch và trong để chúng ta có thể quan sát rõ bên ngoài đồng thời để các xe khác có thể trông thấy xe bạn vào lúc trời tốt hoặc khi gặp thời tiết xấu.

Nếu chúng ta quan tâm đến động cơ của xe như quan tâm đến thân thể của mình thì chúng ta hẳn sẽ vui khi chúng không hỏng hóc và hoạt động tốt, các đường ống không bị nghẽn và các bộ phận khác được bảo quản trong điều kiện tốt. Do đó nên thường xuyên đưa xe đến các gara để xe được chăm sóc.

TÍNH CÁCH CON NGƯỜI VÀ XE HƠI
Xe, cũng như nhà ở, có thể cho thấy tính cách của chủ nhân chúng. Một chiếc xe trông gọn gàng, ngăn nắp sẽ gây ấn tượng tốt đối với chủ nhân của chúng hơn là một chiếc xe lấm lem, trầy trụa. Màu sắc của xe cũng ảnh hưởng đến thái độ của chúng ta đối với chiếc xe và nhận thức mà các tài xế khác dành cho chúng ta. Bao nhiêu người trong chúng ta nghĩ rằng chiếc xe màu đỏ được cầm lái bởi những người rất trẻ kia là một nơi để ngủ rộng rãi? Khi chọn xe chúng ta nên lưu ý đến tính chất Ngũ Hành Tương Sinh-Tương Khắc.

CHỌN MÀU XE
Đứng trên quan niệm về Phong Thủy, khi chọn màu cho xe chúng ta phải chắc chắn rằng màu này không xung khắc với màu Ngũ hành tương ứng với tuổi của mình. Ví dụ, một thanh niên đầy vẻ nam tính, nhất là tuổi Ngọ mạng Hỏa, không nên chọn xe màu đỏ vì màu này làm tăng thêm tính Hỏa của người ấy. Một chiếc xe màu xanh đậm hoặc đen sẽ làm dịu bớt Hỏa, và Kim – màu trắng hay xám – thì thích hợp hơn, và an toàn hơn, vì làm Hỏa suy yếu đi. Mặt khác nếu người lái xe nào dễ bị mất tập trung và là người tuổi Hợi mạng Thủy thì nên chọn màu xe thuộc hành Mộc (màu xanh lá). Màu thuộc hành Kim (trắng hoặc bạc) cũng có tác dụng hỗ trợ những người này.

 
 

Gửi email

Quay lại